Hiển thị các bài đăng có nhãn MINH TRIẾT THIÊNG LIÊNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn MINH TRIẾT THIÊNG LIÊNG. Hiển thị tất cả bài đăng

Đọc Đạo đức kinh của Lão Tử qua lăng kính phương Tây

 Có một vật hỗn độn mà thành trước cả trời đất. Nó yên lặng, vô hình, đứng một mình mà không thay đổi vĩnh cửu, vân hành khắp vũ trụ không ngừng, có thể coi nó nó là mẹ của vạn vật trong thiên hạ. Ta không biết tên nó là gì, tạm đặt tên cho nó là đạo. 

Đọc Đạo đức kinh của Lão Tử qua lăng kính phương Tây

Theo Bản dịch Đạo đức kinh bằng tiếng Anh của Stan Rosenthal.

1. Có một vật hỗn độn mà thành trước cả trời đất. Nó yên lặng, vô hình, đứng một mình mà không thay đổi vĩnh cửu, vân hành khắp vũ trụ không ngừng, có thể coi nó nó là mẹ của vạn vật trong thiên hạ. Ta không biết tên nó là gì, tạm đặt tên cho nó là đạo.

2. Đạo trời không tranh mà khéo thắng, không nói mà khéo đáp, không gọi mà vạn vật tự tới, bình thản vô tâm mà khéo mưu tính mọi việc. Lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt.

3. Lời nói chân thật thì không hoa mỹ, lời nói hoa mĩ thì không chân thật. Người thiện thì không cần phải biện giải [vì hành vi tốt rồi], người nào phải biện giải cho mình là người “không thiện”. Người biết thì không nói, người nói là người không biết.

4. Người ta sinh ra thì mềm yếu mà khi chết thì cứng đơ. Thảo mộc sinh ra thì mềm dịu mà khi chết đi thì lại khô cứng. Cho nên cứng mạnh là cùng loài với chết, mềm yếu là cùng loài với sống. Vì vậy binh mạnh thì không thắng, cây cứng thì bị chặt. Cứng mạnh thì phải ở dưới, mềm yếu lại được ở trên.

5. Mạnh mẽ về dám làm [tức quả cảm, cương cường] thì chết, mạnh mẽ về không dám làm [tức thận trọng, nhu nhược] thì sống. Hai cái đó cùng là mạnh mẽ, mà một cái thì được lợi, một cái lại bị hại; ai mà biết được tại sao trời lại ghét cái đó [quả cảm, cương cường]?

6. Người nào hứa một cách dễ dàng quá thì khó tin được, người nào cho việc gì cũng dễ làm thì sẽ gặp nhiều cái khó. Cho nên người hiểu đạo coi việc gì cũng khó mà rốt cuộc không gặp cái gì khó.Cái có từ cái không mà ra. Không có nghĩa là không có gì cả nhưng phải có cái gì thì mới có cái không có.

7. Cái gì an định thì dễ nắm, giòn thì dễ vỡ, nhỏ thì dễ phân tán. Ngăn ngừa sự tình từ khi chưa manh nha, trị loạn từ khi chưa thành hình.

8. Cây lớn một ôm, khởi sinh từ một cái mầm nhỏ; đài cao chín tầng khởi đầu từ một sọt đất, đi xa ngàn dặm bắt đầu từ một bước chân.Người ta làm việc , thường gần tới lúc thành công thì lại thất bại, vì không cẩn thận như lúc ban đầu, dè sau như trước thì không hỏng việc.

9. Người hiểu đạo trị thiên hạ theo chính sách vô vi, giữ thái độ điềm đạm. Xem cái nhỏ cũng như cái lớn, cái ít như nhiều, lấy đức báo oán. Giải quyết việc khó từ khi còn dễ, thực hành việc lớn từ khi còn nhỏ [vì việc khó trong thiên hạ khởi từ chỗ dễ, việc lớn khởi từ nhỏ]. Cho nên thánh nhân trước sau không làm việc gì lớn mà thực hiện được việc lớn.

10. Đạo lớn bị bỏ rồi mới có nhân nghĩa, mưu trí xuất hiện rồi mới có trá ngụy, gia đình bất hòa rồi mới sinh ra hiếu từ, nước nhà rối loạn rồi mới có tôi trung.

11. Trời đất bất nhân, coi vạn vật như chó rơm; thánh nhân bất nhân, coi trăm họ như chó rơm [Luật thiên nhiên không có tình thương của con người, cứ thản nhiên, vô tâm với vạn vật, mùa xuân tươi tốt, mùa đông điêu tàn…].Khoảng giữa trời đất như cái ống hơi; hư không mà không kiệt, càng chuyển động hơi lại càng ra. Càng nói nhiều lại càng khốn cùng, không bằng giữ sự hư tĩnh.

12. Muốn cho vật gì thu rút lại thì tất hãy mở rộng nó ra đã. Muốn cho ai yếu đi thì tất hãy làm cho họ mạnh lên đã. Muốn phế bỏ ai thì tất hãy đề cử họ lên đã. Muốn cướp lấy vật gì thì tất hãy cho đã. Hiểu như vậy là sâu kín mà sáng suốt. Vì nhu nhược thắng được cương cường.

13. Ngũ sắc làm cho người ta mờ mắt; ngũ âm làm cho người ta ù tai; ngũ vị làm cho người ta tê lưỡi, ruỗi ngựa săn bắn làm cho lòng người ta mê muội, vàng bạc làm cho hành vi người ta đồi bại. Cho nên bậc đắc đạo cầu no bụng mà ko cầu vui mắt, bỏ cái xa xỉ, đa dục mà chọn cái chất phác, vô dục. Bậc đắc đạo bận áo vải thô mà ôm ngọc quý trong lòng.

14. Trời đất trường cửu. Sở dĩ trời đất trường cửu được là vì không sống riêng cho mình, nên mới trường sinh được.Vì vậy thánh nhân [người đắc đạo] đặt thân mình ở sau mà thân lại được ở trước, đặt thân mình ra ngoài mà thân mới còn được. Như vậy chẳng phải vì thánh nhân không tự tư mà thành được việc riêng của mình ư ?

15. Người quân tử gặp thời thì mặc áo gấm mà ngồi xe ngựa, không gặp thời thì mặc áo vải thô mà đi chân đất.

16. Không trọng người hiền để dân không tranh, không quý của hiếm để dân không trộm cắp,không phô bày cái gì gợi ham muốn, để lòng dân không loạn.Chính trị của thánh nhân là làm cho dân lòng thì hư tĩnh, bụng thì no, không ham muốn, không tranh giành, xương cốt thì mạnh.Khiến cho dân không biết, không muốn mà bọn mưu trí thì không dám hành động. Theo chính sách vô vi thì mọi việc đều trị.

17. Không học thì không phải lo. Càng theo học thì mỗi ngày dục vọng, “hữu vi” càng tăng, theo đạo thì mỗi ngày dục vọng càng giảm, vô vi càng tăng.

18. Ta có ba vật báu mà ta ôm giữ cẩn thận, một là lòng nhân ái, hai là tính tiết kiệm, ba là không dám đứng trước thiên hạ.

19. Vì nhân ái mà sinh ra dũng cảm, vì tiết kiệm mà sinh ra sung túc, rộng rãi, vì không dám đứng trước thiên hạ mà làm chủ được thiên hạ. Nếu không nhân ái mà mong được dũng cảm, không tiết kiệm mà mong được rộng rãi, không chịu đứng sau mà tranh đứng trước người thì tất hỏng việc. Trời muốn cứu ai thì cho người đó lòng nhân ái để tự bảo vệ, lấy lòng nhân ái mà giúp người đó.

20. Người sáng suốt nghe đạo thì gắng sức mà thi hành, người bình thường nghe đạo thì nửa tin nửa ngờ, người tăm tối nghe đạo thì cười rộ. Nếu không cười thì đạo đâu còn là đạo nữa ?

21. Nước là vật cực mềm mà lại thắng được vật cực cứng là đá [nước chảy đá mòn]. Nước là vật cực kì mềm mại, nó luôn tìm chỗ thấp mà tới [khiêm nhường], ngày đêm chảy không ngừng, bốc lên thì thành mưa, chảy xuống thì thành sông rạch, thấm vào lòng đất để nuôi vạn vật. Tự nó không ngừng biến đổi, lại sinh ra mọi loài. Nó không tranh với ai, lựa chỗ thấp mà tới, gặp cái gì cản thì nó uốn khúc mà tránh đi, cho nên đâu nó cũng tới được.

22. Vật gì bén nhọn thì dễ gẫy. Ráng giữ cho chậu đầy hoài, chẳng bằng thôi đi; con dao cố mài cho bén nhọn thì lại không bén lâu.Vàng ngọc đầy nhà, làm sao mà giữ nổi ? Giàu sang mà kiêu căng là tự rước họa vào thân.

23. Ba mươi nan hoa cùng qui vào 1 cái bánh, nhưng chính nhờ khoảng trống không trong cái bánh mà xe mới dùng được. Nhồi đất sét để làm chén bát, nhưng chính nhờ cái khoảng trống không ở trong mà chén bát mới dùng được. Đục cửa, cửa sổ để làm nhà, chính nhờ cái trống không đó mà nhà mới dùng được. Vậy ta tưởng cái “có” [bánh, chén bát, nhà] có lợi cho ta mà thực ra cái “không” mới làm cho cái “có” hữu ích.

24. Người đời được vinh hay bị nhục thì lòng sinh ra rối loạn, sợ vạ lớn thì sinh ra rối loạn. Tại sao vinh, nhục thì lại sinh ra rối loạn ? Là vì vinh thì được tôn, nhục thì bị hèn; được thì lòng rối loạn [mừng rỡ mà!]; mất thì lòng rối loạn [rầu rĩ mà!]; cho nên mới bảo là vinh, nhục sinh ra rối loạn. Vậy phải làm sao ? Chúng ta sỡ dĩ sợ vạ lớn là vì chúng ta có cái thân. Nếu chúng ta quên cái thân mình đi, thì còn sợ gì lòng sinh ra rối loạn nữa ?! Cho nên kẻ nào coi trọng sự hy sinh thân mình cho thiên hạ, thì có thể tin cậy vào kẻ đó được.

25. Ai có thể đang đục mà lắng xuống để từ từ trong ra ? Ai có thể đang hư tĩnh mà phát động để lần lần sinh động lên ? Người nào giữ được đạo ấy thì không tự mãn, không cố chấp, cũng không tự ái. Vì vậy nên mới có thể bỏ cái qua cái cũ mà chấp nhận cái mới được.

26. Kẻ đứng 1 chân thì không thể đứng được lâu, kẻ xoạc chân ra thì không thể đi được, kẻ tự biểu hiện mình thì không bao giờ chói lọi, kẻ tự kể công thì không có công, kẻ tự phụ thì chẳng khuyên bảo được ai, kẻ vẽ rắn thêm chân thì không trường cửu. Thái độ đó được ví như đồ ăn thừa, những ung nhọt ai ai cũng ghét.

27. Ai cũng cho cái đẹp là đẹp do đó mà phát sinh ra quan niệm cái xấu; ai cũng cho cái thiện là thiện do đó mà phát sinh ra quan niệm về cái ác. Tại sao con người thích cái đẹp mà lại không thích cái xấu ? Là vì “có” và “không” sinh ra lẫn nhau, “dễ” và “khó” tạo nên lẫn nhau, cao thấp dựa vào nhau mà tồn tại …

28. Kẻ biết người là người khôn, kẻ tự biết mình là người sáng suốt. Thắng được người là có sức mạnh, thắng được mình là kiên cường. Kẻ biết thế nào là đủ là người giàu; kẻ gắng sức là người có chí. Kẻ nào ko rời bỏ những điều trên thì sẽ được lâu dài, chết mà không mất là trường thọ.

29. Hồn nhiên, vô tư, vô dục như đứa trẻ mới sanh là có đức dày, ai cũng yêu quý, muốn đạt như vậy không phải là dễ. Đứa trẻ mới sinh độc trùng ko chích, mãnh thú không ăn thịt, ác điểu ko vồ. Xương yếu gân mềm mà tay nắm rất chặt, suốt ngày gào hét mà giọng ko khản, như vậy là khí cực hòa.

30. Dứt thánh hiền, bỏ mưu trí dân lợi gấp trăm; dứt nhân bỏ nghĩa, dân lại hiếu từ; dứt trí xảo bỏ lợi, không có trộm giặc.Ba cái đó (thánh trí, nhân nghĩa, xảo lợi) vì là cái văn vẻ bề ngoài không đủ để trị dân nên phải bỏ; khiến cho dân quy về điều này: ngoài thì mộc mạc, trong thì giữ sự giản phác, giảm tư tâm bớt dục vọng mới là tích cực.

31. Dạ (giọng kính trọng) khác với ơi (giọng xem thường) bao nhiêu ? Thiện với ác khác nhau như thế nào ? Cái mọi người sợ ta không thể không không sợ. Việc học rộng lớn thay, không sao hết được.

32. Mọi người hớn hở như hường bữa tiệc lớn, như mùa xuân lên đài; riêng ta điềm tĩnh, không lộ chút tình ý gì như đứa trẻ chưa biết cười, rũ rượi mà đi như không có nhà để về. Mọi người có thừa, riêng ta như thiếu thốn, lòng ta ngu muội, đần độn thay ! Mọi người đều có chỗ để dùng, riêng ta ngoan cố mà bỉ lậu. Riêng ta khác người mà quý mẹ của muôn loài (tức đạo) .

33. Vạn vật tuần hoàn, âm cực dương sinh, lúc sinh lúc tử, trăng tròn trăng khuyết. Vạn vật biến đổi rồi trở lại cái bản thể của nó (trở về với đạo). Từ xưa đến nay, đạo tồn tại hoài, nó sáng tạo ra vạn vật. Chúng ta do đâu biết được bản chất vạn vật ? Đó là do đạo.

34. Thánh nhân ôm giữ lấy đạo làm phép tắc cho thiên hạ. Không tự biểu hiện cho nên mới sáng tỏ, không tự cho là phải nên mới chói lọi, không tự kể công nên mới là có công, không tự phụ cho nên mới hơn người. Chỉ vì không tranh với ai nên không ai tranh với mình được.

35. Người xưa bảo: “Cong (chịu khuất phục) thì sẽ được bảo toàn”, đâu phải hư ngôn! Nên chân thành giữ vẹn cái đạo mà về với nó. Trong trời đất có bốn cái lớn mà người là một. Người bắt chước trời, trời bắt chước đạo, đạo bắt chước tự nhiên.

36. Ít nói thì hợp với đạo. Cho nên gió lốc không thể thổi suốt buổi sáng, mưa rào không suốt ngày. Ai làm nên những cái ấy? Chính là do trời đất. Trời đất còn không thể lâu được, huống hồ là con người?

37. Vì binh khí là vật bất tường (chẳng lành, gây họa), ai cũng ghét cho nên người giữ đạo không dùng binh khí. Bất đắc dĩ phải dùng đến nó, mà dùng đến thì điềm đạm là hơn cả. Thắng cũng không cho là hay, nếu cho là hay tức là thích giết người. Kẻ nào thích giết người thì không trị được thiên hạ.

38. Việc lành thì trọng bên trái, việc dữ thì trọng bên phải. Giết hại nhiều người thì nên lấy lòng bi ai mà khóc, chiến thắng thì nên lấy tang lễ mà xử

S.T

Share:

THẬN TRỌNG VỚI CÁC THÔNG ĐIỆP VỀ SỰ CHUYỂN ĐỔI

 

Hiện nay có rất nhiều thông điệp về sự chuyển đổi thời đại. Tuy nhiên để thấu hiểu được sự chuyển đổi cần sự tỉnh thức, minh triết, thông thái sáng suốt. Thực tế nhiều người chưa đủ tầm mức đó và chưa có tư duy độc lập nên với ma trận thông tin cũng như sự phát triển mạnh mẽ của môi trường mạng đã ảnh hưởng nhiễu loạn đến nhận thức của đa số.
Sự chuyển đổi đã, đang và sẽ diễn ra nhưng nó không phải là con đường thẳng và không hề dễ dàng như nhiều thông điệp nói. Cuộc chiến giữa ánh sáng và các thế lực tối vẫn đang diễn ra nhưng không có chuyện thời đại mới đang đến là mọi chuyện sẽ tốt đẹp hết, thành thiên đường hết. Sự sàng lọc nhân loại và Trái Đất sẽ còn khốc liệt. Thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu... chỉ là sự khởi đầu.
Ví dụ như hiện tượng Trump là sự nổi lên của năng lượng phân rẽ, mất lương tri, tiêu cực, chủ nghĩa da trắng thượng đẳng, chủ nghĩa dân tộc cực đoan (tiền đề của chủ nghĩa phát xít)... Trump cũng không phải là người chống lại thế lực tối (deep state) như nhiều lightworker lầm tưởng. Chỉ 1 điểm Trump ủng hộ người giàu, giới tài phiệt và vô số các lời lẽ phân biệt chủng tộc, sai sự thật, phủ nhận khoa học cũng đủ thấy, ngoài ra chỉ là các chiêu bài chính trị để giành lá phiếu... nhưng quá nhiều người ảo tưởng về Trump.
Hiệu trưởng trường huyền linh học Morya Federation - Giáo sư Michael D. Robbins, cũng có thư chia sẻ những ý nghĩ của mình:
Kỳ bầu cử tổng thống này (2016) thực sự điên rồ. Tôi và nhiều người khác xấu hổ vì sự thiếu hiểu biết, ích kỷ, và tính cả tin của một nửa dân số Hoa Kỳ. Một nửa số người [Mỹ] phân cực theo cảm tính ở ý nghĩa thấp đến nỗi họ không thể suy nghĩ.
Chân sư DK đã dạy chúng ta về các chức năng của Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian trong những thời khắc thử thách và nguy hiểm — và nhân loại đang trải qua một thời kỳ như vậy, ít nhất là cho đến năm 2025. Đây là một thách thức đối với tất cả chúng ta. Chúng ta sẽ tăng gấp đôi nỗ lực của chúng ta để hoàn thành những tiềm năng của Nhóm Nội Tại Vĩ đại này
  • Nhiều thông điệp khác đưa ra các nội dung không có cơ sở, thậm chí xuyên tạc, mang tính cơ hội
Ví dụ tài liệu Thông điệp của các đấng sáng tạo nói sai về Jesus, xuyên tạc, vì đây là thông điệp của một linh hồn khá phát triển giác ngộ, rồi mấy người biên chép, có khi lồng ý của mình vào. Chúa Jesus là một Pháp thân tại trần của Thượng đế, đó là Ngôi Hai, hay mình Thánh Linh cũng là như thế. Khi giết Chúa Jesus xong, cả nước Israel đã mất nước gần hai nghìn năm, cả dân tộc bị đọa đày và đến thế kỷ 20 vẫn còn bị tiêu diệt. Tất cả những kẻ giết Chúa Jesus xong, chết đi đều bị đọa vào địa ngục khủng khiếp và đi đầu thai súc sinh đến nay vẫn chưa trở về.
Ngoài ra thông điệp này nói sai về Lucifer, đánh giá quá cao Lucifer; thực chất bản chất tên này là phản loạn định chiếm ngôi Thượng đế, trong khi Thượng đế giáng trần làm nhiệm vụ, đã bị Thượng đế và Thiên binh Thiên tướng sau đó đánh giết khủng khiếp.
Cuộc phản loạn chỉ diễn ra có 22 năm thôi. Sự phản loạn của Lucifer diễn ra khoảng 30.000 năm trước, không phải là 100.000 năm trước. Sau khi Thượng đế về trời đã trừng trị đích đáng nó. Ngoài ra tài liệu này coi thường Tổng lãnh Thiên thần Michael-đây là Tổng lãnh Thiên Thần trong các Tổng lãnh cao nhất của Thiên đình.
Tài liệu này đánh giá sai lạc về bản chất của Thiên Chúa giáo. Đặc biệt, tuyệt đối Chúa Jesus chưa bao giờ yêu và lấy, sinh con với bất kỳ đàn bà nào. Có một chuyện nữa đó là đức Mẹ Đồng Trinh sinh con, đó là sự thật chắc chắn, ai có thể du hồn học hỏi sẽ biết sự thật, không nên tuyên truyền sai lạc đi. Thiên Chúa không thiếu gì khả năng và quyền phép có thể làm cho đức mẹ có thai mà không cần sinh hoạt tình dục.
Nhiều thông tin của thông điệp này về tận thế, hay đại tận, hay các sao chổi làm hại Trái đất năm 2017…đều không có cơ sở.
Thông điệp này nói có sự phá hủy của hành tinh Maldek, nằm trong hệ mặt trời chúng ta, thông tin này nói không đúng! Không bao giờ có một hành tinh gọi là Maldek nằm trong hệ mặt trời này, vì lúc nào cũng chỉ có 9 hành tinh đúng qui luật Vũ trụ, trong trường trí nhớ Akashic của Vũ trụ tuyệt đối không có thông tin gì đúng của sao này.
Linh hồn viết nên Thông điệp này Cha đã cho đầu thai rồi, vì thông tin có nhiều tiêu cực, giáo hóa nhân loại không đúng lúc. Anh ta là người cơ hội, có ý định thông tin sai lệch để lấy lòng chúng sinh và hạ thấp Thiên Chúa Giáo, đây là sai lầm có ẩn ý của anh ta. Anh ta cũng chưa bao giờ là hồn sao Kim hay là một Tổng lãnh thiên thần.
Về nguyên tắc mà nói, thì chỉ có một Đấng Sáng tạo trong Vũ trụ, nhưng có nhiều đấng sáng tạo con. Cũng như Đấng tạo hóa, chỉ có một không có hai.
Share:

THƯỢNG ĐẾ THÁNH GIÁO THÁNH ĐỨC

               

1-Chương 1-Thượng đế là gì? - Ai là Cha chung toàn Vũ trụ?

2-Chương 2-Thượng đế sáng tạo ra con người và muôn vật.

3-Chương 3-Thiên đình.

4-Chương 4-Thiên đường, Niết Bàn.

5-Chương 5-Chân Lý tối cao, Chân Lý, Chân Pháp Vũ trụ.

6-Chương 6-Quân Thiên Binh Thiên tướng.

7-Chương 7-Người ngoài hành tinh.

8-Chương 8-Phật, thần, thánh, tiên là gì?

9-Chương 9-Lịch sử nhân loại.

10-Chương 10-Bản chất con người.

11-Chương 11-Ma quỉ.

12-Chương 12-Tại sao phải có tôn giáo? Giáo chủ các tôn giáo.

13-Chương 12-Tương lai các tôn giáo.

14-Chương 14-Nghiệp quả là gì? Tu xóa nghiệp.

15-Chương 15-Thời đại Mạt thế toàn nhân loại hiện nay. Đầu thế kỷ 21.

16-Chương 16-Thời đại Đại Đồng Thánh Đức là thế nào? Tổ chức xã hội Thánh Đức. Thiên đường tại thế là thế nào?

17-Chương 17-Bao giờ thì bắt đầu có Thánh Đức? Tiến trình Thánh Đức xã hội toàn cầu.

18-Chương 18-Các Luật trần gian thời đại Thánh Đức.

19-Chương 19-Bản chất nhân cách cần có trong để được tồn tại trong thời đại Thánh Đức.

20-Phật Di Lặc-tức Đấng Christ lâm phàm, Chưởng giáo Thời đại Thánh Đức.

21-Chương 21-Tương lai xã hội cộng sản như thế nào?

22-Chương 22-Thánh Đức Hội.

 Thượng đế giảng sách này, để các con hiểu về một số nội dung quan trọng trong thời đại mới-Thời đại Thánh Đức-Bảo Bình. Cha phải nhập trọc hồng trần, để giáng viết sách này, thông qua thân mạng một nhà ngoại cảm tài năng, có đủ lục thông, thần thông quảng đại, đủ khả năng để giảng cho các con hiểu được bản chất của vũ trụ, Thượng đế, loài người và đặc biệt là thời đại Thánh Đức.


Share:

Luật nhân quả là luật của vũ trụ, không phải của thần hay Phật

Hầu như ai ai trong chúng ta cũng đã từng nghe đến hai từ “Nhân” và “Quả”. Nếu làm lành thì sau này sẽ hưởng một quả báo lành, an vui và hạnh phúc. Ngược lại, nếu làm việc ác thì quả báo đau khổ, trầm luân sẽ không thể nào tránh khỏi.
Nhân Quả là quy luật vận hành tự nhiên của vạn vật và vũ trụ. Không phải do Trời, Phật hay một đấng tối cao nào tạo lập và cũng không một ai có thể can thiệp được. Xưa nay vốn dĩ như vậy, rất bình đẳng. Một người gây tội ác có thể lọt lưới pháp luật thế gian nhưng không thể nào thoát được nhân quả và báo ứng. Nhân gian thường nói: “Ở hiền thì gặp lành và gieo gió ắt sẽ gặt bão” hay “Nếu muốn biết quá khứ hãy nhìn hiện tại. Nếu muốn biết tương lai ra sao thì hiện tại sẽ trả lời” cũng là đạo lý về Nhân Quả vậy!
Thật ra nhân quả rất sâu xa, không dễ gì hàng phàm phu chúng ta có thể hiểu hết được mà ngay đến cảnh giới của Bồ-tát vẫn chưa thể thấu suốt. Kinh dạy: “Bồ- tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”. Bồ-tát làm việc gì cũng sợ lỗi lầm, làm việc gì cũng cân nhắc trước sau rồi mới làm để tránh đi những quả báo đau khổ về sau. Chúng sanh phàm phu thì ngược lại. Đôi khi biết việc là sai mà vẫn cứ làm nên đã gây ra bao ác nghiệp phải đoạ lạc trầm luân trong khắp nẻo khổ đau của luân hồi.
Trong nhà Phật cũng thường nói: “Vạn pháp giai không, nhân quả bất không”. Thăng lên hay đoạ lạc, phàm phu hay thành Phật cũng không ngoài Nhân Quả.
Thời còn tại thế, Đức Phật cũng đã từng có lần cảnh báo cho những người không tin Nhân Quả báo ứng mà kể ra một câu chuyện cho thấy dù đã thành Phật mà vẫn còn bị nhân quả chi phối. Kinh dạy rằng, thuở nọ ở Ấn Độ, trong thành Ca-tỳ-la-vệ có một ao nước, bao nhiêu tôm cá đều bị người dân bắt làm thịt ăn hết. Trong ao ấy có một con cá lớn cũng bị bắt. Có một chú bé, tuy không ăn cá nhưng lại đùa nghịch dùng cây gõ lên đầu cá ba cái. Trong thời Phật Thích Ca tại thế, vua Ba-Tư-Nặc rất mến mộ Đạo Phật, cưới một cô con gái dòng họ Thích Ca sinh ra một Thái tử tên là Lưu Ly. Thuở nhỏ, Thái tử Lưu Ly thường qua quê ngoại bên thành Ca-tỳ-la-vệ chơi. Một hôm, do đùa nghịch nơi toà thuyết pháp của Phật và bị người gác đuổi ra nên sinh tâm sân hận. Thái tử Lưu Ly nuôi lòng hận thù ấy cho đến khi lớn lên và làm vua liền cho quân sang đánh thành Ca-tỳ-la-vệ, giết sạch cư dân trong thành. Đức Phật biết nhưng cũng khuyên ngăn không được. Đồng thời, trong thời gian này, Đức Phật cũng bị đau đầu ba ngày. Lúc ấy, ngài Mục Kiền Liên được xem là vị có thần thông bậc nhất trong số mười đệ tử lớn của Phật đã phát lòng từ bi dùng thần thông đưa mấy trăm người dòng họ Thích Ca cho vào bát và tạm đưa lên cõi Trời lánh nạn. Song cuối cùng cũng không thể cứu được mà khi đưa về thì trong bát chỉ còn toàn là máu. Các đại đệ tử cầu Đức Phật dạy rõ nguyên nhân. Nhân đây, Phật đã phương tiện kể lại câu chuyện tiền kiếp dân làng giết cá khi xưa. Con cá lớn trong hồ xưa kia nay đã đầu thai lại chính là vua Lưu Ly. Những con tôm cá trong hồ bị giết hại nay chính là đại quân binh theo vua đánh thành Ca-tỳ-la-vệ. Dân trong thành và những người nhà dòng họ Thích Ca bị giết chết chính là những người đã bắt cá tôm giết ăn thuở nọ. Chú bé tuy không ăn cá nhưng lại đùa nghịch và lấy cây gõ vào đầu cá ba cái nay chính là Đức Phật Thích Ca bây giờ, nên cũng đã bị đau đầu ba ngày…
Những câu chuyện thế này, ngày nay do đã quá xa với thời Đức Phật còn tại thế nên người đời rất khó tin. Nhưng người đời cho dù có tin hay không tin thì sự thật muôn đời vẫn là sự thật. Kinh dạy: “Như Lai nói lời chân, lời thật, lời như, lời không dối, lời chẳng khác”. Đâu phải nói không tin là không có? Nếu không tin, sẽ không có thì chúng ta cũng sẽ không tin cho khoẻ? Tất cả chúng ta dù muốn hay không muốn, cũng đang chịu sự chi phối rất rõ ràng của Nhân Quả.
Gần đây, cũng có người vì chưa hiểu sâu về nhân quả nên tuy lúc đầu cũng đi chùa, làm thiện nhưng khi gặp chuyện bất trắc, nghịch cảnh đến trong cuộc sống thì liền sanh tâm than Trời trách Phật không linh nên không tiếp tục đến chùa hay làm thiện nữa thì quả thật rất đáng tiếc! Bất trắc hôm nay đến là nó phải đến, kể cả chúng ta có làm thiện hay không làm, cúng chùa hay không cúng chùa, nhưng vì kiếp trước đã làm quá nhiều việc ác nên kiếp này phải trả, còn những việc làm thiện lành hôm nay thì kiếp sau hay cuối đời này mình mới được hưởng, vì nhân quả là thông cả ba đời: Quá khứ, hiện tại, vị lai. Nên có Hiện Báo (Thấy ngay trong kiếp này), Sanh Báo (Kiếp sau mới thấy) và Hậu Báo (Những kiếp lâu xa về sau khi hội đủ duyên mới thấy).
Hơn nữa, phải xem lại trước đây chúng ta đã làm ác, ăn ở thất đức thế nào? Và nay mình đã làm thiện được bao nhiêu? Chứ vay mười, mới trả có ba mà đòi xoá hết nợ xem sao cho hợp phải không các bạn? Nói làm thiện để trả lại chỉ là cách nói an ủi mà thôi, chứ làm thiện thì có thiện báo, ác sẽ có ác báo vốn không thay nhau được. Tuy nhiên, chúng ta nên hiểu giữa Nhân và Quả còn có Duyên. Nếu trước đây do vô minh đã trót lỡ tạo nghiệp ác. Nay biết lỗi, sám hối và hứa sẽ không còn tái phạm, và từ đây sẽ không ngừng tu thiện để cắt các duyên xấu thì quả xấu chưa trổ. Và phát tâm tinh tấn tu hành giải thoát sinh tử để thành Thánh nhân, Bồ-tát, Phật với đầy đủ trí tuệ và năng lực để sau này phát đại thệ nguyện phân thân tái sinh về khắp nơi trong các cõi mà đền ơn và cứu độ chúng sinh thì mới thật rốt ráo và viên mãn.
Các bạn ạ! Kiếp này, nếu ai may mắn, giàu sang hơn người cũng là do ở kiếp trước đã từng cúng dường, bố thí… Nếu bây giờ mà không lo tạo phước, tu hành thì kiếp sau phải đói khổ, bất hạnh. Hiểu được đạo lý Nhân Quả, chúng ta sẽ sống rất tự tại và an lạc ngay trong cuộc sống hôm nay vì chúng ta sẽ không lầm nhân quả và biết chấp nhận tất cả những gì không may đến với mình. Từ đó mà sám hối và vươn lên nỗ lực tu hành, tích cực làm nhiều việc thiện lành hơn nữa thì tương lai chắc chắn sẽ rất tốt đẹp. Hoà thượng Tịnh Không cũng đã từng nói: “Lỗi không phải do người khác, lỗi là ở chính mình”. Các bạn hãy tự suy ngẫm lời dạy này nói đến nhân quả ba đời quả thật là vô cùng bổ ích mỗi khi tiếp người, đối vật và gặp trắc trở trong cuộc sống.
Share:

SỰ PHÁT TRIỂN SỨC MẠNH Ý CHÍ TÂM LINH


Chúng ta đã xem qua khía cạnh lý thuyết của vấn đề, và giờ đây có thể xét qua những phương pháp sử dụng để phát triển sức mạnh tối thượng này của Ý Chí mà nguồn gốc của nó xuất phát từ cõi Niết Bàn. Như đã được nhấn mạnh ở các trang trước, khi chúng ta còn bị hạn chế trong Tâm thức của cõi vật chất, thì chúng ta chỉ có thể giao tiếp với những biểu hiện của Atma, khi nó xảy ra ở tại cõi này mà thôi; và chúng ta không thể đoán chừng để hiểu hoặc để kiểm soát được những sức lực hùng hậu phát xuất từ chính cõi Niết Bàn. Chúng ở ngoài vòng hiểu biết của chúng ta và sẽ tiếp tục ở ngoài vòng tay chúng ta cho đến chừng nào sự phát triển nội tâm cho phép chúng ta vượt xa hơn cõi vật chất và hoạt động ở các cõi tâm linh cao hơn.

Khi tìm hiểu chức năng của Ý Chí trong đời sống hằng ngày ở cõi hồng trần, cách tốt nhứt là bắt đầu từ cái tổng quát để lần hồi đi xuống; từ bước một, đến những cái riêng biệt, nghĩa là trước hết hãy khởi sự với những chức năng kiểm soát tổng quát rồi đến những chức năng nhỏ hơn, trong đó chức năng tổng quát tự nó giải quyết lấy nó.

Để làm tăng trưởng ảnh hưởng của Atma trong đời sống chúng ta, bước thứ nhứt là cố gắng lần lần nâng cao trung tâm tâm thức, từ địa hạt phàm nhơn đến địa hạt Chơn nhơn. Bao lâu mà chúng ta còn trọn vẹn trầm mình trong các quyền lợi và ảo tưởng của phàm nhơn, thì không thể nào chúng ta biểu lộ được Ý Chí Tâm Linh thật sự của chúng ta vì nó bắt nguồn từ cõi Niết Bàn. Con đường giao thông giữa phần thấp với phần cao phải được trống trải, để Nguồn Sống Thiêng Liêng luôn trôi chảy đem theo với nó minh triết, quyền lực và tình thương thật sự.

Nơi đây, chúng ta có thể minh họa bằng một vài thực hành sơ đẳng với mục đích khiến cho Ý Chí Tâm Linh trở thành nhân tố chánh của đời sống chúng ta. Một mặt, các thực hành này dần dần phát triển thói quen tách rời chúng ta ra khỏi quan điểm và thái độ của phàm nhơn; và mặt khác, làm cho các hạ thể quen lần hồi với sự kiểm soát và chỉ huy của Chơn Ngã. Những thực hành này phải được coi như là do một bản chất tổng quát và sơ khởi mà thôi. Vì Atma chỉ có thể trọn vẹn kiểm soát và sử dụng các thể thấp chỉ khi nào cá nhân đã thực hiện con đường Yoga và tiến bộ khá nhiều nơi đó. Trên thực tế, đeo đuổi theo lý tưởng Yoga có thể được xem như có mục đích biến Atma thành một vị cai quản tối thượng của đời sống nhà Yogi do sự thực hành có hệ thống pháp môn Raja Yoga.

Bước đầu của các thực hành này, là tập luyện thói quen luôn luôn hồi tưởng lại bản chất thật sự của mình và mục đích của đời sống. Điều này ngụ ý rằng người chí nguyện đã có từ lâu, suy tư sâu xa về các vấn đề của kiêp sống, đã thực hiện sự cần thiết cấp bách để vượt lên trên các yếu đuối và ảo tưởng của phàm nhơn, đã có vài ý niệm về thái độ thay đổi đối với hoàn cảnh của cuộc đời – những điều cần thiết cho sự thực hiện một tâm thức cao cả hơn. Thói quen hồi tưởng này không phải chỉ giản dị quyết định thực hành là có được, nhưng phải cố gắng không ngừng và mãnh liệt theo chiều hướng đó trong nhiều năm trường. Các hạ thể chúng ta vẫn có thói quen hoạt động một cách hỗn loạn, không bị kiểm soát, từ kiếp này sang kiếp khác. Mỗi thể hành động và phản ứng giống theo những Samskaras đã có sẵn từ trước, và công việc sửa đổi chúng ngay ngắn theo đúng với mục đích đời sống cá nhân mình không phải là chuyện dễ. Điều này chẳng những đòi hỏi một sự kiểm soát càng lúc càng gia tăng, nhưng điều cần hơn nữa ở giai đoạn sơ khởi là một sự cảnh giác không ngừng. Từ trước đến giờ, chúng ta không quen kiểm soát các hoạt động của hạ thể mình và có tâm thức tập trung vào phần thanh cao của bản tánh chúng ta. Chúng ta sẽ tái phạm tới lui nhiều lần, rơi vào những trạng thái không lưu ý đến những hành động của mình, và chừng đó, nhận thức với một xúc động mạnh rằng mình đã cho phép các hạ thể hoạt động theo một đường lối hỗn loạn thông thường của chúng. Điều đó không thể tránh được ở giai đoạn đầu, nhưng nếu chúng ta cố gắng dai dẳng để vươn mình lên trên thái độ của phàm nhơn, trung tâm tâm thức chúng ta lần hồi sẽ di chuyển vào nội tâm và điều này mang lại một khả năng càng lúc càng gia tăng, để giải quyết thành công những vấn đề của cuộc sống và nhìn chúng theo với phối cảnh đúng đắn của chúng. Như thế, một người mỗi lúc mỗi hành động từ trung tâm của Chơn Nhơn, nơi ngự của Atma.

Bởi vậy, tất cả những ai đang tìm cách hướng sức mạnh của Atma đến với phàm ngã, trước tiên hãy cố gắng gom góp các mục đích nhỏ nhặt và hoạt động của mình vào trong vòng ảnh hưởng từ điển của một mục tiêu sống động liên quan đến vận mạng cao cả của chúng ta. Chúng ta hãy khai thác tất cả năng lực và khả năng của mình trong công việc phụng sự mục tiêu lớn lao này. Chúng ta hãy mạnh dạn điều khiển các thể của mình, giống như một người lái xe thiện nghệ lái chiếc xe của đời sống mình thẳng tiến đến mục tiêu Giác Ngộ. Hình ảnh này của Chân Ngã của chúng ta – dù nó là một biểu tượng cũng mô tả rất đúng mục đích thật sự của Atma ở nội tâm chúng ta. Hãy gìn giữ hình ảnh ấy mãi trong trí và lần hồi cố gắng chuyển nếp sống của mình đến đó.

Bên trong khuôn khổ của thái độ tổng quát này, bây giờ chúng ta có thể xem xét vấn đề chánh, là đặt các thể của mình dưới sự kiểm soát. Việc này, như đã được nói qua, là một trong những chức năng chánh yếu và quan trọng của Ý Chí ở các cõi thấp. Việc kiểm soát này có ý nghĩa là gì? Một cách rộng rãi, nó có nghĩa đại khái hai việc. Trước hết, mỗi thể trở thành một dụng cụ biết vâng lời và hữu hiệu của Chân Ngã. Và kế đó, mỗi thể chỉ hành động đáp ứng với những sai khiến từ bên trong và kháng cự lại những xúi giục từ bên ngoài, hoặc do chính thể ấy tự động tạo tác lấy. Chúng ta hãy xét kỹ lại xem hai điểm đó muốn nói gì? Về điểm đầu, chúng ta nên nhớ rằng do sự thúc đẩy của môi trường trong ấy chúng phát triển như là một kết quả của các Samskaras – hay những dấu vết từ các tiền kiếp lưu lại – các thể xác, vía và trí của chúng ta có một cá tính riêng tư, và chúng chống đối lại tất cả sự chỉ huy từ bên trong nghịch lại với cách hành động thông thường quen thuộc của chúng. Một thể xác quen dùng một loại thức ăn đặc biệt sẽ phản kháng tất cả cố gắng làm thay đổi trong cách ăn kiêng với mục đích sửa đổi đời sống vật chất. Một thể vía quen thuộc với những kích thích do rượu mang lại, sẽ ầm ĩ phản đối vào những giờ phút quen thuộc của nó và khiến mọi việc làm trở nên khó khăn cho đến khi nhu cầu của nó được thỏa mãn. Một thể trí quen vơ vẩn thẩn thờ theo ý thích sẽ từ chối tập trung các năng lực của nó vào một công việc để trước mắt nó. Ở trường hợp của mỗi người chúng ta, những thể này của mình có nhiều khuynh hướng quen thuộc và những thói quen, chúng chống đối lại khi mình sử dụng chúng theo ý muốn mình. Một trong những việc làm quan trọng nhứt mà người chí nguyện phải thực hành là luyện tập chúng nó phản ứng tức khắc và trọn vẹn theo bất cứ sự điều khiển nào từ bên trong. Muốn được vậy, một số khuynh hướng và thói quen phải được hủy bỏ hoàn toàn, trong khi một số khác trở nên vô hiệu lực đối với công việc của mình. Không thể vứt bỏ trọn vẹn những khuynh hướng này cho đến khi đạt được một trình độ tiến hóa thật khả quan, nhưng nếu chúng không gây một trở ngại tích cực nào cho công việc và sự tiến bộ của chúng ta, thì chúng ta cũng có thể thu đạt được mục tiêu chỉ định của mình. Đây là một công việc khó khăn, nhưng nếu chúng ta nghiêm chỉnh cố gắng và bền chí thì nó sẽ được thực hiện mỹ mãn.

Khía cạnh thứ nhì của việc kiểm soát có thể được gọi là “không phản ứng”. Như đã nói khi nãy, một kết quả của những khuynh hướng do các thể đã thu thập từ lâu, là mỗi thể tự động phản ứng trước một số kích thích từ bên ngoài theo một phương cách riêng biệt, do các nguồn gốc từ quá khứ chúng nó. Sự ứng đáp trước một kích thích tỏ ra máy móc và được gọi là phản ứng. Chúng ta hãy kể một vài minh họa. Có người nào đó giả bộ như đánh bạn với một cây gậy. Thân thể tự động phản ứng bằng cách lấy một thế phòng thủ. Người nào đó đến nói với bạn những điều mà bạn cho là có tính cách lăng mạ. Thể vía của bạn tức khắc phản ứng, khiến bạn giận dữ. Bạn đọc trong sách thấy một quan điểm chống đối lại những gì bạn thích thú thuộc về một đề tài nào đó. Trí bạn tự động phản ứng và bác bỏ ngay quan điểm đó, không xét đoán nó với một tâm trí cởi mở. Tất cả những điều vừa kể thuộc về vô số đường lối mà các thể chúng ta phản ứng một cách máy móc trước các va chạm từ bên ngoài, và những khuynh hướng này quả thật là một phần của bản chất chúng ta mà chúng ta không cho là bất hảo và đến đỗi cũng không ý thức đến chúng. Khi chúng ta bắt đầu bước chân trên con đường khai mở tâm linh, thì Bồ Đề tâm chúng ta khởi sự hoạt động và những khuynh hướng này bắt đầu dần dần được chúng ta lưu tâm đến. Lần lượt từng cái một, chúng ta bắt đầu ý thức chúng nó, và vì chúng ta loại bỏ những cái quá thô bạo thì những cái tinh vi hơn bèn xuất hiện trong lãnh vực tâm thức chúng ta.

Vấn đề xóa bỏ những khuynh hướng hay phản ứng này là điều thật thích thú và có thể được xem xét đến trong hai khía cạnh. Những ai quen thuộc với những nghiên cứu về phân tâm học gần đây đều biết rằng các “mặc cảm” tri thức chỉ cần được cho đương sự biết rõ là chúng biến đi mất một cách tự nhiên. Tương tợ như thế, có nhiều khuynh hướng của chúng ta liên quan mật thiết với các mặc cảm của phân tâm học này mà chỉ cần được nhận thức là làm chúng biến mất. Nhưng, có những thứ khác không mất đi theo các cách đó và chỉ sẽ loại bỏ do sự cẩn thận áp dụng những định luật tâm lý kết hợp với một sức ép của Ý chí nhẹ nhàng, nhưng bền bỉ. Phương pháp thứ nhì này là một thành phần của toàn bộ Khoa Học Xây Dựng Tánh Tình, nhưng nó không cần thiết đi sâu vào vấn đề nơi đây. Khi đặc tánh “không phản ứng” được phát triển đến một mức độ khả quan; chừng đó các thể sẽ tỏ ra không ảnh hưởng trước những va chạm của các kích thích từ bên ngoài, và chỉ đáp ứng đối với các thôi thúc của Jivatma, hay là linh hồn cá nhân mà thôi. Dù cho đáp ứng này thuộc loại bất động, hay một loại hoạt động nào đó, sẽ do Jivatma định đoạt. Bằng cách đó, chúng ta có thể tập cho thể vía vẫn trọn vẹn không đáp ứng đối với những rung động của giác quan, và đáp ứng các rung động thù hận bằng tình thương yêu thôi. Ở cả hai trường hợp đáp ứng sẽ do Ý Chí định đoạt, chứ không phải tự động máy móc. Sự luyện tập đặc tánh “không phản ứng” này làm phát triển lần hồi tánh “Tự định đoạt” và là một đặc điểm đáng chú ý của những người mà trong nội tâm họ Atma trở thành Đấng Cai Quản Nội Tâm, và đặc tánh này phải được phát triển cho những người mong muốn Ý Chí Tâm Linh điều khiển nếp sống của họ. Chúng ta càng trở nên vô ngã và không phản ứng thì các hành động của chúng ta là biểu lộ của Sự Sống Thiêng Liêng bên trong nội tâm, thay vì chỉ là những tạo vật của các Samskaras trong các hạ thể của mình. Hành động thực hiện dưới các điều kiện này gọi là Nishkama (Vô dục) và thoát khỏi sự ích kỷ.

Sau những tìm hiểu sơ khởi này – nhưng rất quan trọng để giúp ta hiểu vấn đề phát triển Ý Chí Tâm Linh, giờ đây chúng ta có thể đi đến những phương pháp rõ ràng áp dụng cho mục tiêu này. Đây chỉ là những nguyên tắc tổng quát – nguyên tắc có thể được áp dụng cho cuộc sống dưới vô số hình thức, tùy theo bản chất con người và hoàn cảnh.

Chúng ta đã xem qua và thấy rằng Ý Chí có hai chức năng: kiểm soát hoạt động của các hạ thể, cũng như cung cấp năng lực tiềm tàng cho các hoạt động ấy. Sự kiểm soát này có hai mặt, cả hai đều quan trọng như nhau. Mặt thứ nhất có thể được gọi là kềm chế và mặt thứ nhì là điều hòa các hoạt động. Ở ba cõi thấp thì nên cẩn thận lưu ý đến cả hai mặt của sự kiểm soát này, nếu muốn đạt được cách làm việc hoàn toàn kết hợp và hài hòa của các thể.

Về mặt kềm chế, chúng ta nên nhớ rằng năng lực kềm chế những hoạt động của các thể chỉ có thể phát triển do thực hành lâu dài đủ loại khác nhau. Vậy nên tốt nhứt bắt đầu với việc kềm chế những hoạt động tích cực gây thiệt hại. Thí dụ như ở lãnh vực trí tuệ, chúng ta có thể hướng những cố gắng đến việc xóa bỏ các tư tưởng xấu xa; ở lĩnh vực tình cảm, chúng ta có thể cố gắng loại bỏ sự căm thù dưới mọi hình thức, và ở lãnh vực vật chất chúng ta có thể cố gắng xóa bỏ những thói quen xấu đã làm hao mòn sức khỏe thân thể. Sau khi những hoạt động tích cực gây thiệt hại được loại đi, chúng ta có thể tiến đến việc lần hồi xóa bỏ những hoạt động vô ích, bề ngoài có vẻ như là không có gì hại, nhưng chúng ngầm phá hoại nhựa sống của chúng ta bằng mọi cách gây ra lãng phí thời gian thật nhiều. Nếu xét kỹ đời sống của mình một cách cẩn thận, chúng ta sẽ thấy một phần lớn thời giờ và năng lực đã phí vào những hoạt động vô ích, mưu tìm những kích thích đủ loại bằng những cố gắng làm ra tiền mà mình không bao giờ cần dùng đến, bằng cách dự đầy đủ những cuộc hội họp xã hội trong khi chúng không giúp ích cho mục tiêu nào khác hơn là giết thời giờ đã treo nặng trĩu trên tay chúng ta. Tất cả những việc đeo đuổi và hoạt động ấy phải lần hồi, nhưng không ngừng bị loại bỏ khỏi nếp sống, nếu chúng ta thật sự quyết định trọn vẹn tự hiến mình cho công việc phục tòng Ý Chí. Mỗi mãnh lực bé nhỏ cần ích cho công việc phải được tiết kiệm cẩn thận và theo hệ thống. Tất cả những thực hành khác nhau để kềm chế các hoạt động gây thiệt hại hoặc vô ích, phải được hướng dẫn lần hồi để đạt đến sự thu hoạch khả năng hiếm có, khiến người hành giả có thể kềm chế trọn vẹn hoạt động của ba hạ thể, mỗi khi cần thiết. Rốt ráo thì điều này có nghĩa là có được khả năng tập trung cái trí một cách trọn vẹn, kèm giữ thể vía hoàn toàn an tịnh và khiến thân thể tĩnh lặng trong bất cứ thời gian dài nào.

Cực điểm và loại cao nhứt của sự biểu lộ khả năng kềm chế này được thấy nơi nhà Yogi ngồi Đại Định (Samadhi) với một thân thể hoàn toàn tĩnh lặng, và các hoạt động tư tưởng, tình cảm, được kềm chế ở mức độ số không. Bởi vì, trừ khi các hoạt động của ba hạ thể kềm chế được trọn vẹn và các thể dường như là tê liệt, thì tâm thức mới có thể tự do hoạt động ở các cõi cao hơn và lĩnh hội được sự hiểu biết của các cõi đó.

Mặt thứ nhì của sự kiểm soát do Ý Chí thực hiện được thấy trong hoạt động điều hòa của các thể. Nơi đây cũng giống như trường hợp kềm chế, chúng ta phải lưu tâm đến toàn bộ ba thể thấp, chẳng những vì linh hồn cá nhân (Jivatma) cần dùng cả ba cho hoạt động của nó ở các cõi thấp, mà còn vì bản chất hài hòa và sự làm việc phối hợp của các thể thấp giúp cho công việc ở thế giới bên ngoài thành công và khiến các thần lực từ các cõi trên có thể chuyển xuống những thể thấp. Jivatma – linh hồn cá nhân – được ví như có bổn phận điều khiển một cổ xe do ba con ngựa kéo, bất cứ con nào do bản tánh bất kham và có những hành động bất thường của nó, đều có thể làm chậm trễ sự tiến bộ của cổ xe và công việc bị hư hỏng. Những người bắt đầu thiền định nhận thức ngay điểm quan trọng cần thiết là cách hoạt động hài hòa của ba thể thấp. Nếu xác thân không hoàn toàn khỏe mạnh mà lại ươn yếu và các tình cảm bị náo động thì sự định trí tức khắc bị trở ngại, và nguồn cảm hứng cùng một dòng thần lực từ các cõi cao phải bị cản ngăn, gián đoạn ít nhiều do các thể bị xáo trộn ít hay nhiều.

Khi bàn đến sự kiểm soát hành động do Ý Chí thực hiện đối với các hoạt động của ba hạ thể, tưởng rằng chúng ta nên xem xét riêng rẽ cả ba khía cạnh quan trọng của sự kiểm soát tổng quát và chức năng điều hòa mà Ý Chí đã phô diễn liên quan với ba hạ thể. Khía cạnh thứ nhứt là công việc bắt đầu thực hiện những loại hoạt động mới. Chúng ta sẽ nhận thấy tương đối dễ dàng khi hoạt động theo những điều quen thuộc với mình, hoặc thực hành những công việc có phần thích thú. Sức mạnh của thói quen, hay là sức mạnh của dục vọng khiến chúng ta chiến thắng chiều hướng bất động tự nhiên – hay là Tamas – của các thể. Nhưng khi chúng ta phải bắt đầu thực hành những hoạt động mới mà không có gì gọi là thích thú chút nào, chừng đó chúng ta phải sử dụng sức mạnh của Ý Chí chúng ta. Bởi thế trên thực tế, thí dụ như khi chơi quần vợt, hay gởi tư tưởng mến yêu đến một người mình yêu thương, hoặc đọc một quyển tiểu thuyết thích thú, chúng ta không cần sử dụng ý chí. Trái lại, các hạ thể sẽ tỏ ra chống đối, nếu chúng ta học một công việc khéo tay, như đánh máy chữ hay gởi tư tưởng thương yêu đến một người mình không thích, hoặc học một sinh ngữ mới. Ở các trường hợp này, chúng ta phải sử dụng Ý Chí để thực hiện những quyết định. Một người đã để trước mặt y lý tưởng hoàn thiện thì phải học tập thực hành các sự việc mới lạ, và kết nạp không ngừng những đường lối hoạt động mới mẻ. Lần hồi, y phải loại bỏ tánh chất tự động chống đối của các hạ thể và tập thói quen sử dụng những đường lối hoạt động mới dù thích hay không cũng không hề kháng cự lại, giống như một con ngựa đã được huấn luyện thuần thục tự động và tức khắc vâng theo một cử chỉ nhỏ nhặt của chủ nó.

Khi khả năng kết nạp những đường lối mới đạt được đến một trình độ khả quan, chúng ta bắt đầu lần hồi mở rộng lãnh vực các khả năng liên quan đến mỗi thể. Một số nhiều sự việc mà một thể riêng biệt của mỗi cá nhân có thể thực hành hiệu quả bị giới hạn và tùy thuộc nơi môi trường sự tập luyện và mức độ mà thể ấy được phát triển. Phạm vi này phải chậm chậm và theo hệ thống nới rộng ra để cho các năng lực cao trong con người có thể tìm cách biểu lộ càng lúc càng nhiều và đầy đủ hơn trong đời sống ở các cõi thấp. Dĩ nhiên, những chiều hướng mà các khả năng này của những thể khác nhau phải được mở rộng sẽ tùy thuộc vào những nhu cầu và bản tánh của cá nhân, tùy nơi cái được gọi là sự duy nhứt của cá nhân y. Nhưng cần có một áp lực liên tục vào các hạ thể để cho các khả năng rung động và sự hữu ích của chúng luôn luôn tăng trưởng. Chỉ trừ khi nào một người nghiêm chỉnh xúc tiến công việc hoàn thiện hóa trọn vẹn; y sẽ nhận thức rằng đời y bị giam chặt, nhốt vào chỗ chật hẹp và bị đóng khung, rằng sự không đáp ứng của các thể đã gây trở ngại cho sự nẩy nở tâm thức và đời sống thiêng liêng bên trong của y. Y mong mỏi đem các rung động từ những cõi giới nội tâm đến tâm thức vật chất của y nhưng bộ óc của y do bản chất nặng trược của nó đem lại những khó khăn không sao vượt qua được. Y mong hưởng sự ngây ngất của lòng sùng tín, để nó sẽ chở y trên đôi cánh đến dưới chân của Vị mà y tôn thờ, nhưng thể vía đần độn của y từ chối rung động hài hòa với khúc nhạc thiêng liêng của Đấng Sri Krishna. Y mong muốn tiếp tục học tập nhưng trí thức y chưa phát triển được khả năng thấu hiểu đúng các dòng tư tưởng. Cáu kỉnh trước những bất tài đó cũng là vô ích thôi! Chúng ta không thể có những khả năng mà mình chưa phát triển. Con người khôn ngoan chấp nhận vị trí y đang đứng và cố gắng nới rộng thêm khả năng của các thể y theo chiều hướng nào y mong muốn, bằng cách không ngừng sử dụng áp lực của Ý chí và các phương tiện thích hợp để đạt đến kết quả. Nếu chúng ta nhớ rằng mình đã có sẵn tất cả những khả năng này trong nội tâm mình ở hình thức tiềm tàng, và chúng ta cũng có năng lực vô tận của Ý Chí Thiêng Liêng để mình tùy ý sử dụng thì có lẽ chúng ta có thể tiếp tục với một lòng tự tin to tát hơn trong công việc khai mở dần những khả năng thầm kín của mình. Các khả năng này có nhiều loại khác nhau, âm điệu du dương của Đấng Nhạc Công Thiêng Liêng bên trong chúng ta càng được diễn tả do các nhạc cụ y đã chế tạo cho Ngài sử dụng.

Chẳng những các khả năng phải được mãi bành trướng, mà lại còn trở nên sâu đậm hơn nữa do một sự luyện tập kỹ lưỡng. Một sự phát triển từng phần của một số lớn khả năng có thể có một công dụng thật ít oi và đem lại một nếp sống phù phiếm. Chỉ khi nào một khả năng được phát triển đến mức độ cao hữu hiệu thì mới có thể sử dụng những tài nguyên nội tâm và phụng sự những mục đích của linh hồn. Yếu tố cường độ là quan trọng nhất trong đời sống tâm linh, và tất cả những thành tựu ở lĩnh vực tâm linh thường thường thực hiện được, là do việc tăng cường lần hồi sự cố gắng hướng về một điểm nhứt định. Bây giờ việc tăng cường đó được thực hiện do áp lực của ý chí càng lúc càng mạnh mẽ hơn, và điều này chúng giúp cho sự phóng thích năng lực ý chí vì có lẽ không có cách làm nào khác. Nhờ hành động và phản ứng này giữa sự cố gắng mãnh liệt và năng lực ý chí mà lần hồi xây dựng trong tính tình chúng ta những đức tính như sự chịu đựng, sự bền chí và đi thẳng một đường đến mục đích. Những điểm này cung cấp ở các cõi thấp những phản ảnh yếu ớt của quyền lực hùng mạnh kết hợp với Tâm Thức Niết Bàn.

Cùng với khả năng kết nạp bất cứ loại hoạt động nào và giữ nó dưới áp lực mạnh mẽ ở bất cứ thời gian dài nào, còn phải tạo thêm khả năng dứt bỏ hoạt động tức khắc và trọn vẹn ở bất cứ lúc nào. Đó là tột đỉnh của công việc kiểm soát các thể và mặc dầu thật sự đó là một hình thức kềm chế, tuy nhiên cách chấm dứt các hoạt động này của những thể xác, vía và trí ngay lập tức và trọn vẹn, phải được thực hành như một hậu quả của chính các hoạt động đó để thu đạt quyền lực này một cách hoàn hảo. Thí dụ như chúng ta có thể xúc tiến một hoạt động vật chất một cách mãnh liệt, và khi thói quen đã thành hình, bỗng nhiên chúng ta ngưng hoạt động. Chúng ta có thể dấy động một tình cảm như sự phấn khởi đến cao độ và kế đó, trong tức tốc khiến thể vía hoàn toàn an tịnh. Chúng ta có thể bắt thể trí làm một công việc, hay là học hỏi một đề tài, và khi thể trí hoàn toàn thích thú và bị thu hút, kế đó ngưng một cách trọn vẹn công việc hay đề tài khỏi tâm trí, không cho phép nó quay trở lại, như nó có thói quen hành động như thế. Khi một người có thể theo đuổi tiếp tục hoặc chấm dứt bất cứ hoạt động nào của thể xác, vía và trí tùy ý muốn, chỉ chừng đó mới có thể được cho là Atma đã kiểm soát được những thể này và có khả năng sử dụng chúng như những dụng cụ ở các cõi thấp.

Những gì đã được xem qua ở trên cho thấy rằng công việc phát triển Ý Chí rõ ràng là các cơ may để cho quyền lực tối cao này nẩy nở trong nội tâm chúng ta được cung cấp ở mỗi lãnh vực của sự sống và ở mọi loại hoàn cảnh bên ngoài lẫn bên trong. Atma là một nguyên lý tối thượng của nội tâm chúng ta, là trung tâm của con người tâm linh. Xuyên qua Ý Chí Tâm Linh – là vũ khí chính yếu của nó – Atma điều chỉnh, ban thần lực và kiểm soát tất cả sức mạnh của chúng ta và xuyên qua các thể, những sức mạnh này hoạt động. Chính là quyền lực sơ khởi này ban bố sức mạnh và sự kiểm soát ấy ở bên trong chúng ta đã hộ trì chúng ta xuyên qua những thời gian dài vô tận cho đến giai đoạn tiến hóa hiện nay, và nó cũng là sự bảo đảm cho chiến thắng cuối cùng của chúng ta, thắng tất cả khuyết điểm, yếu đuối, và thực hiện định mạng huy hoàng của mình. Người nào tự chăm sóc mình một cách nghiêm chỉnh, bắt đầu học tập và thực hành Khoa học Tu Dưỡng Bản Thân, khởi sự thu hút được Nguồn Thần Lực Thiêng Liêng vô tận này, càng lúc càng nhiều thêm cho đến khi y chỉ trở thành một trung tâm, xuyên qua đó Ý Chí Thiêng Liêng thực hiện, không bị cản trở, đó là Cứu Cánh Thiêng Liêng vậy.
Share:

CÁC GIAI ĐOẠN TIẾN HÓA CỦA LINH HỒN

Thông thường, 1 linh hồn (soul) từ khi xuống Trái Đất, đầu thai lần đầu tiên, đến lúc được khai sáng, trở về cội nguồn, không tái sinh nữa là khoảng 400 – 500 kiếp sống.
Trong 400 - 500 kiếp sống đó, linh hồn sẽ trải qua 1 quá trình phát triển như sau:
⚜️Giai đoạn 1 - Linh hồn trẻ con (infant soul): sống khoảng 10 – 15 kiếp sống đầu tiên
- Đặc điểm: chỉ tập trung vào việc ăn – chơi và ngủ.
- Vì đây là lần đầu tiên, soul xuống Trái Đất, không có nhiều trải nghiệm, không có nhiều hiểu biết, họ chỉ quan tâm đến bản năng sinh tồn, với rất nhiều nỗi sợ hãi, nên các soul này chỉ ra sức vơ vét để bảo đảm cho sự sinh tồn của chính mình, không quan tâm đến người xung quanh ra làm sao, bị tổn thương như thế nào. Nên giai đoạn này, là lúc tạo ra rất nhiều Bad Karma.
- Thường thấy, họ là những tầng lớp thấp nhất trong xã hội, những người làm công, họ chỉ làm việc để nuôi sống chính bản thân họ, làm việc để có cái cho vào miệng ăn.


⚜️Giai đoạn 2 - Linh hồn thiếu niên (teenager soul): Từ kiếp 15 – 30
- Đặc điểm: chỉ tập trung vào POWER - quyền lực.
- Các soul này không muốn làm việc nữa, họ muốn người khác làm việc cho mình, chỉ huy người khác, người khác phải nghe theo ý kiến của mình. Các linh hồn này, tràn đầy năng lượng sống
- Thường thấy, họ là các leader trong các tổ chức chính trị, kinh tế, văn hóa, các thủ lĩnh tôn giáo, hội nhóm, tăng đoàn, các leader của các tổ chức phi chính phủ.
- Và giai đoạn này, cũng là lúc, tạo ra rất nhiều Bad Karma, để chứng tỏ bản thân, bảo vệ quyền lực , POWER, sức mạnh của mình.


⚜️Giai đoạn 3 - Linh hồn trẻ (young soul): Từ kiếp 30 – 250
- Đặc điểm: hoạt động trong các lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật, hội họa, âm nhạc…
- Thường thấy, họ là các Master về sáng tạo, nghệ thuật. Họ giỏi tất cả mọi thứ.
- Và giai đoạn này, các soul đã dừng lại việc tạo Bad Karma mới, và nhận lại các Bad Karma cũ đã được tạo ra trong các kiếp sống đầu tiên, các linh hồn sống với rất nhiều sự chịu đựng, đau khổ


⚜️Giai đoạn 4 - Linh hồn trưởng thành (Adults soul): Từ kiếp 250 – 400
- Đặc điểm: họ bắt đầu đi giúp đỡ, phụng sự cho xã hội, xây trường học, bệnh viện.
- Thường thấy họ trong các tổ chức phi lợi nhuận, hoạt động từ thiện cho cộng đồng
- Đây là giai đoạn họ “trả nợ liên tục” cho các Bad Karma họ đã tạo ra trong giai đoạn trước. Họ chỉ cảm thấy hạnh phúc khi đi làm từ thiện, khi cho đi, khi phụng sự xã hội.
- Và giai đoạn này, linh hồn không có thực hành thiền định.
                      
⚜️Giai đoạn 5 - Linh hồn già (Old Soul): Từ kiếp 400 – 500
Trong giai đoạn này, chia ra làm 2 giai đoạn nhỏ:
🎀Giai đoạn 5.1 - Giai đoạn đầu của linh hồn già (early old soul)
- Họ có rất nhiều thách thức – challenge trong cuộc sống.
- Họ bắt đầu hỏi các câu hỏi, tại sao ?
1 khi linh hồn có các câu hỏi tại sao, đó là dấu hiệu cho thấy, đây là 1 linh hồn già (old soul)
* Tại sao việc này xảy ra cho tôi ?
* Tại sao có người giàu, có người nghèo ?
* Tại sao tôi được sinh ra trong gia đình, có người cha, người mẹ như thế này … ?
- Họ bắt đầu tìm kiếm sự thật, họ đi học rất nhiều các khóa học, gặp rất nhiều các vị thầy chỉ để tìm kiếm sự thật tâm linh, tìm kiếm chân lý
- Họ cầu khấn, tụng niệm, đọc sắc lệnh, mantra, câu chú, kinh kệ để giúp tâm trí tĩnh lặng, tìm kiếm sự bình an, tìm kiếm chân lý
- Họ bắt đầu tìm hiểu đến thiền. Và chỉ có linh hồn già, mới tìm hiểu đến thiền và thực hành thiền định. Các giai đoạn trước sẽ ko bao giờ thiền.
🎀Giai đoạn 5.2 - giai đoạn cuối của linh hồn già (Final old soul), chuẩn bị chuyển tiếp sang giai đoạn linh hồn khai sáng.
- Họ đã trả nợ xong hết tất cả các Bad Karma cũ, dừng tạo ra Bad Karma mới, và họ liên tục tạo mới rất nhiều Good Karma, thông qua phụng sự, giúp đỡ xã hội
- Các linh hồn này không còn quan tâm đến tiền bạc, quyền lực, gia đình, xã hội. Họ chỉ quan tâm đến sự thật và chân lý.
- Chỉ ngồi thiền, không tụng niệm, đọc kinh, cầu chú, khấn vai gì nữa. Chỉ khi họ tĩnh lặng hoàn toàn trong thiền định, họ mới trải nghiệm được chân lý.
- Linh hồn không làm bất cứ 1 việc gì khác, ngoài thiền định. Họ sống đời sống tâm linh, thực hành thiền định.
- Trong giai đoạn này, lại có 3 giai đoạn nhỏ:
Giai đoạn 5.2.1: các soul quan tâm đến những thứ bên ngoài, các mối quan hệ
Giai đoạn 5.2.2: họ từ bỏ hết tất cả mọi thứ, gia đình,
công việc, mối quan hệ xã hội, lên núi, vào rừng để thực hành thiền định, … và lúc này, cũng là lúc họ đạt được sự chứng ngộ, nhưng sự khai sáng chưa thật sự hoàn toàn, họ phải trải qua 1 vài lần tái kiếp nữa, để đi vào
Giai đoạn 5.2.3: thực hành tâm linh trong cuộc sống đời thường, kết hợp hài hòa giữa tâm linh & vật chất, mới đạt được sự khai sáng thật sự. Đây được gọi là con đường trung đạo vàng.
Việc từ bỏ mọi thứ, lên núi đi tu, là 1 việc rất dễ dàng.
Trải nghiệm việc thực hành tâm linh trong đời sống thực tế, mới là thách thức cho linh hồn đó.
Ví dụ: người vợ thực hành thiền, chồng không thiền, nên nói người vợ bị điên, ko lo đi làm kiếm tiền nuôi con, chỉ biết suốt ngày ngồi thiền, thì lúc đó, mới là thách thức thật sự cho người vợ, trong việc cân bằng giữa thực hành tâm linh, và đời sống gia đình, điều tiết giữa vai trò chăm sóc con cái & chăm sóc linh hồn


⚜️Giai đoạn 6 - Linh hồn khai sáng (Diviners soul)
Giai đoạn này, đối với họ, cuộc sống như là 1 lễ hội, họ đã vượt qua mọi đau khổ, buông bỏ mọi dính mắc cảm xúc, tâm trí, tình cảm ….
Đặc điểm:
- Chỉ sống trong sự thật và chân lý.
- Không giết hại, không bạo lực
- Chỉ làm 1 công việc, đó là chia sẻ khoa học thiền định, chia sẻ chân lý, chia sẻ sự thật.
- Đi con đường trung đạo.
- Có sự hợp nhất với Thượng Đế.
Họ đạt được học vị, gọi là Buddha/Christ.
Buddha/Christ là học vị để chỉ trạng thái phát triển của tâm thức, chỉ về sự nhận thức, trí tuệ, sự thông thái, có cái nhìn toàn thể về bức tranh của Vũ trụ, sự khai sáng, chứng ngộ.
Chưa từng có thời điểm nào mà trên 
Trái Đất có rất nhiều vị Phật được tái sinh như hiện nay. Thời Đức Phật Thích ca, chỉ có 1 mình ngài đạt mức độ phát triển tâm thức của sự khai sáng. Nhưng bây giờ, trên Trái Đất đã có hàng trăm, hàng ngàn người đã đạt được sự chứng ngộ. Đây là kỷ nguyên vàng của Trái Đất để bước vào 1 giai đoạn mới.
Những người đạt học vị Buddha/Christ, trông họ rất bình thường, sống cuộc đời bình thường.
Những người đem tiền, của cải , vật chất rất nhiều đi cho từ thiện, cho xã hội, ko phải Buddha - phật sống.
Những nhà healer, những người thể hiện mình có những quyền năng đặc biệt, thần thông, thì cũng chưa đạt được sự khai sáng để nhận học vị Buddha.

Buddha/Christ chỉ về mức độ phát triển tâm thức, ko phải nói về thói quen, hành vi cho từ thiện, hay quyền năng, khả năng thần thông nào đó.
Và muốn khai sáng, các linh hồn già sẽ phải đi từ:
1. Tìm kiếm sự thật
2. Trải nghiệm sự thật, chân lý
3. Chia sẻ sự thật, chân lý.
Muốn tốt nghiệp trường học 
Trái Đất, để đi đến chiều kích cao hơn (Ascension), thì soul đó phải chia sẻ khoa học tâm linh, chưa chia sẽ, sẽ không bao giờ tốt nghiệp được.
Và bất kỳ ai, cũng có thể đạt được học vị Buddha/Christ , nó tùy vào lực chọn – tự do ý chí của mỗi người đó, có thể mất 10 – 30 kiếp (Đức Phật, Chúa Giêsu), trung bình 400 – 500 kiếp, hoặc 1000 – 2000 kiếp, rồi thì ai cũng sẽ tốt nghiệp cả.
Mức độ tiến hóa của linh hồn, sẽ dựa trên:
1. Số lượng kiếp sống đã trải qua (lived)
2. Số lượng bài học đã tốt nghiệp (done)
Và Trái Đất này là 1 trường học, được vận hành bởi quy luật nhân quả, nên đã tạo ra 1 sân chơi rất công bằng, nghiêm khắc :
- Bạn xuống 
Trái Đất bạn tạo Bad Karma (experience)
- Bạn trả nợ cho các Bad Karma đã tạo ra (graduation)
- Bạn học bài học của chính mình (awakening)
- Bạn trở nên khai sáng (enlightenment)
- Bạn trở về cội nguồn (ascension)
Người hướng dẫn & chia sẻ: Pradeep Vijay
-St-
Share:

Translate